Trương Tấn Bửu

Học thuật
Thân thiện
Trương Tấn Bửu

Ông Trương Tấn Bửu mặc triều phục nhà Nguyễn.

Định nghĩa
  1. Danh từ riêng:
    • Tên một quan, danh thần triều Nguyễn: "Trương Tấn Bửu" tên của một vị tướng, một đại thần nhiều công lao phò tá chúa Nguyễn Phúc Ánh (vua Gia Long) phục vụ dưới triều Nguyễn.
    • Một nhân vật lịch sử: Ông một nhân vật lịch sử cụ thể, gắn liền với quá trình mở mang bờ cõi, ổn định xây dựng đất nướcNam Bộ dưới thời các chúa Nguyễn vua Nguyễn.
dụ sử dụng
  • Danh từ riêng:
    • Trương Tấn Bửu một trong những khai quốc công thần của triều Nguyễn.
    • Công lao của Trương Tấn Bửu được ghi nhận qua nhiều trận đánh việc trị an.
    • Đền thờ Trương Tấn Bửu ở Phú Nhuận một di tích lịch sử.
Các cách sử dụng nâng cao
  • "Công thần như Trương Tấn Bửu": dùng để von, so sánh về lòng trung thành công lao to lớn.

    • Ông ấy phục vụ công ty từ ngày đầu, có thể coi công thần như Trương Tấn Bửu vậy.
  • "Theo gương Trương Tấn Bửu": ám chỉ tấm gương về sự trung thành, tận tụy lập nhiều công trạng.

    • Các tướng sĩ nên theo gương Trương Tấn Bửu hết lòng phụng sự đất nước.
Biến thể từ gần giống
  • Long Vân hầu: Đây tước hiệu của Trương Tấn Bửu được phong năm 1790.
  • Trương Tấn Long: Tên khác (hoặc tên tự) của Trương Tấn Bửu.
Từ đồng nghĩa (trong ngữ cảnh lịch sử, chỉ chức vụ/tước hiệu)
  • Danh thần: Bậc bề tôi nổi tiếng, công lao.
  • Khai quốc công thần: Bề tôi công lao trong buổi đầu lập quốc.
  • tướng: Tướng lĩnh quân sự.
Các cụm từ (phrasal verbs) liên quan

(Không áp dụng cho danh từ riêng chỉ nhân vật lịch sử)

Thành ngữ liên quan

(Không thành ngữ phổ biến trực tiếp chứa tên riêng "Trương Tấn Bửu")

Trương Tấn Bửu

Ông Trương Tấn Bửu mặc triều phục nhà Nguyễn.

  1. (1752-1827)
  2. Quan nhà Nguyễn, còn tên khác Long, sinh năm 1752 tại làng Hưng Lễ, tỉnh Vĩnh Long ( nay Thạnh Phú Đông, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre), mất năm 1827
  3. Năm 1787, ông theo Nguyễn Phúc ánh làm cai . Năm 1790, ông đổi qua tiền quân, tước Long Vân hầu, tiền quân Phó tướng. Năm 1802, khi Nguyễn ánh lên ngôi, ông làm hưởng Dinh đóng quânBắc Thành. Năm 1806, ông công trong việc dẹp bọn cướp biển, được làm Trung quân kiêm tả quân Phó tướng, quyền lãnh chức Tổng trấn Bắc Thành, thay Chất. Năm 1810, ông được bổ vào Gia Định ,quyền lãnh chức Tổng Trấn. Năm 1812, ông làm Phó Tổng Trấn Gia Định. Năm 1816, được điều về đốc xuất đắp thành Châu Đốc. Năm 1821, ông làm Phó Tổng trấn Gia Định lần thứ hai. Năm 1822, được thăng Chánh Nhất phẩm. Năm 1923, ông trông nom việc vét kinh Vĩnh Tế cùng với Nguyễn Thoại. Tại Phú Nhuận hiện nay còn miếu mộ của ông